TRỞ LẠI BÁM DÂN
Tháng 2 năm 1947, địch đánh chiếm Đông Hà và Thị xã Quảng Trị. Sau khi củng cố xong đồn trú, chúng bắt đầu nống ra các vùng nông thôn, tổ chức càn quét liên tục, tìm diệt cán bộ Việt Minh, đóng thêm đồn bót, mở rộng vùng kiểm soát, nhằm bắt lính, bắt phu, cướp bóc lương thực, thực phẩm phục vụ cho âm mưu xâm lược của chúng. “Lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt đánh người Việt”
Triệu Bình là một xã lớn có nhiều tiềm năng kinh tế và lao động, địch rất chú ý, nên chúng tổ chức bao vây càn quét nhiều lần và cướp bóc bắn giết hết sức dã man và sau trận càn đầu tiên chúng đã hình thành, tổ chức một số đồn bót xung quanh Xã Phong Gia, sau là Triệu Bình như : Đại Hào, Dương Lộc, Đại Lộc, phía Triệu An có đồn Nhu Lý, phía đường Cửa Việt có đồn Bố Bản. Mặc dù vậy cán bộ xã vẫn bám sát cơ sở, vận động nhân dân thực hiện vườn không nhà trống, tham gia dân công, phá hoại, đấu tranh chống địch tàn sát, cướp bóc v.v... Mỗi khi địch càn thì tránh ra các vùng lân cận, giặc rút lại trở về bám dân hoạt động.
Khoảng tháng 5 năm 1947 địch đóng thêm đồn Gia Độ. Sau một thời gian địch lại đóng thêm đồn Phú Tài và một lô cốt dưới làng Gia Độ, tạo thành một hệ thống đồn bót dày đặc vây quanh toàn xã. Bọn phản động nằm vùng bắt đầu ngóc đầu dậy, Hội tề trốn tại các đồn bót bắt đầu trở về các thôn hoạt động công khai.
Tình hình hết sức căng thẳng xã chủ trương động viên số đảng viên và dân quân chưa lộ mặt ở lại bám dân, xây dựng cơ sở, toàn bộ lực lượng còn lại di chuyển ra khỏi xã, dựa vào các thôn Linh Yên, Chợ Cạn, ban đêm trở về xã hoạt động, để khỏi mất liên lạc với dân.
Được một thời gian thì Linh Yên và Chợ Cạn cũng bị địch chiếm đóng, một lần nữa cán bộ và du kích xã phải di chuyển lên vùng tiền chiến khu đóng tại Tràu thuộc xã Triệu Sơn và ban đêm lại thay nhau trở vể xã hoạt động. Việc đi lại từ chiến khu về xã gặp rất nhiều khó khăn phức tạp, đường xa lại phải vượt qua đường số 1 và lội qua sông Thạch Hãn, trong tình hình địch thường tổ chức phục kích trên đường và ca nô tuần tiểu dưới sông, nên chỉ sau một thời gian, đã có một số cán bộ du kích bắt đầu chán nản. Có người bỏ đi nơi khác buôn bán làm ăn, một số chạy lên Ba Lòng tham gia công tác tại một số cơ quan của tỉnh, số còn lại trong đó có tôi thì kéo nhau ra bìa rừng che lán ở; phát rẫy trồng sắn, trồng khoai để giải quyết vấn đề lương thực trong lúc mất liên lạc với dân. Đây là thời kỳ đen tối nhất: gần một trung đội du kích bị thương vong trong trận càn đầu tiên vì chủ quan và thiếu kinh nghiệm chiến đấu. Tôi còn nhớ được một số người sau đây : Thôn Gia Hộ : ông Hồ Khắc bị địch bắt và chặt đầu cắm ở cầu Đại Hào trên đường Cửa Việt, các ông Trần Thưởng, Nguyễn Y, Hoàng Khôi và Hoàng Đồng bị bắn chết tại địa phương, anh Trần Hẹ bị địch phục kích bắn chết tại đập Xuân Thành, anh Nguyễn Hưng trúng đạn ca nông chết tại thôn Phú Tài, ông Nguyễn Duy và anh Hoàng Đỉu chết vì sốt rét, ông Hồ Kiệm, Hoàng Phùng, Nguyễn Lẩm và Nguyễn Thoan và Trần Oanh, Trần Hựu bị địch bắt và thủ tiêu mất tích, anh Hồ Trữ và Hồ Cặn bị thương nặng, được đưa ra Nghệ An điều trị v.v... Thôn An Giạ: anh Lê Chiếm bị địch bắt và bị bắn tại đồn Gia Độ. Thôn Giáo Liêm có anh Trương Thắng và một số du kích bị bắt và bị bắn chết tại Gia Độ, thôn Thanh Liêm: anh Đạt đi dân công bị phục kích chết tại đường số 1, v.v... và còn một số người khác ở khắp các thôn trong xã mà tôi không nhớ hết.
Ngoài ra còn có một số cán bộ và du kích đã dinh tê đầu hàng giặc như các tên : Trân Bờ và Hoàng Đồng (Bộ Dược) thôn Gia Độ, Phan Tượng, Trương Lỵ, Viên Vỵ thôn Giáo Liêm, tên Hưu ở thôn Thanh Liêm, tên Từ thôn Quảng Lượng, tên Trầm ở Phúc Lộc, tên Dương ở Dương Lệ, tên Ngọc ở Phú Tài lần lượt ra đầu thú kẻ thù.v.v…
Tuy mất liên lạc với địa phương, nhưng thỉnh thoảng tôi vẫn liên lạc với Huyện ủy tại Trấm, phản ảnh tình hình và xin ý kiến chỉ đạo, lúc đó đồng chí Hiền bí thư đã lên Ba Lòng làm cán bộ thông tin tỉnh và đồng chí Long chủ tịch thì sơ tán một nơi nào không ai biết. Khoảng tháng 12 năm 1947, Thường vụ Huyện ủy trực tiếp gặp anh em cán bộ và du kích xã còn lại tại Triệu Sơn. Sau khi trao đổi tình hình, Thường vụ quyết định củng cố lại tổ chức. Như đã nói ở phần trên, Huyện ủy giao trách nhiệm cho tôi trực tiếp phụ trách đưa anh em trở về đồng bằng bám dân, bám đất, xây dựng cơ sở, chiến đấu lâu dài, không được bỏ dân, xa rời cơ sở. Lúc đó bản thân tôi và một số anh em đang bị sốt rét nặng, tôi giành một tháng chuẩn bị và làm công tác tư tưởng, anh em được bàn bạc dân chủ và thông suốt chủ trương trở về bám đất, bám dân. Mặc dù thấy được khó khăn, nguy hiểm nhưng anh em đều tự nguyện vui vẻ, không có ai bàn lùi, run sợ.
Khoảng một tháng sau, tất cả anh em đều chuyển về đồng bằng phân tán ở hai thôn Lập Thạch và Trung Chỉ. Hàng ngày phân công nhau ra bến đò An Giạ chờ gặp người quen thân để nắm tình hình và bắt liên lạc với cơ sở nằm vùng. Quanh quẩn ở Lập Thạch và Trung Chỉ gần một tháng, lòng tôi như lửa đốt, có lúc hoang mang dao động, đấu tranh dữ dội giữa cái sống và cái chết : Về xã ư? là lao vào vùng tử địa. Trở lại chiến khu ư? là không làm tròn nhiệm vụ trên giao, vi phạm nguyên tắc tổ chức của Đảng! Cuối cùng tôi quyết định để anh em tạm ở lại, bản thân về trước tìm cách liên lạc với số đảng viên cũ và một số quần chúng tốt để chuẩn bị điều kiện cho anh em trở về bám trụ. Đầu tiên đặt chân về thôn An Lợi trong hoàn cảnh địch hoàn toàn làm chủ, tất cả các thôn đều có Hội tề Hương vệ, lính đồn đi lại tự do. Tôi tìm gặp một số đảng viên nằm vùng, truyền đạt chỉ thị của Huyện ủy và yêu cầu các đảng viên bố trí cho tôi ở lại một thời gian để nghiên cứu đưa chính quyền về hoạt động.
Thời gian ở đây được gia đình các đồng chí Bích, Thùy, Oa luân phiên nuôi giấu và giúp đỡ chữa bệnh, ban ngày ngồi trong buồng viết truyền đơn, khẩu hiệu, ban đêm đi dán khẩu hiệu và thăm viếng bà con, lần lượt từ thôn này sang thôn khác. Địch nhặt gỡ ở thôn này thì truyền đơn lại xuất hiện ở thôn khác. Sau hơn 2 tháng thăm dò dư luận, tình hình có những diễn biến tốt, một số binh lính địch bắt đầu hoang mang, dao động, một số quần chúng nhân dân biểu thị thái độ phấn khởi tin tưởng, tôi liền trở lại chiến khu báo cáo tình hình cho huyện biết và quyết định đưa chính quyền về xã, đặt trụ sở tại thôn Phú Tài, cán bộ du kích bố trí phân tán ai về thôn nấy, tối đến tập trung về trụ sở để phân công hoạt động. Mỗi cán bộ, du kích phải có từ một đến hai hầm bí mật tại chỗ để tránh địch, không được thoát ly ra khỏi xã.
Tháng 2 năm 1947, địch đánh chiếm Đông Hà và Thị xã Quảng Trị. Sau khi củng cố xong đồn trú, chúng bắt đầu nống ra các vùng nông thôn, tổ chức càn quét liên tục, tìm diệt cán bộ Việt Minh, đóng thêm đồn bót, mở rộng vùng kiểm soát, nhằm bắt lính, bắt phu, cướp bóc lương thực, thực phẩm phục vụ cho âm mưu xâm lược của chúng. “Lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt đánh người Việt”
Triệu Bình là một xã lớn có nhiều tiềm năng kinh tế và lao động, địch rất chú ý, nên chúng tổ chức bao vây càn quét nhiều lần và cướp bóc bắn giết hết sức dã man và sau trận càn đầu tiên chúng đã hình thành, tổ chức một số đồn bót xung quanh Xã Phong Gia, sau là Triệu Bình như : Đại Hào, Dương Lộc, Đại Lộc, phía Triệu An có đồn Nhu Lý, phía đường Cửa Việt có đồn Bố Bản. Mặc dù vậy cán bộ xã vẫn bám sát cơ sở, vận động nhân dân thực hiện vườn không nhà trống, tham gia dân công, phá hoại, đấu tranh chống địch tàn sát, cướp bóc v.v... Mỗi khi địch càn thì tránh ra các vùng lân cận, giặc rút lại trở về bám dân hoạt động.
Khoảng tháng 5 năm 1947 địch đóng thêm đồn Gia Độ. Sau một thời gian địch lại đóng thêm đồn Phú Tài và một lô cốt dưới làng Gia Độ, tạo thành một hệ thống đồn bót dày đặc vây quanh toàn xã. Bọn phản động nằm vùng bắt đầu ngóc đầu dậy, Hội tề trốn tại các đồn bót bắt đầu trở về các thôn hoạt động công khai.
Tình hình hết sức căng thẳng xã chủ trương động viên số đảng viên và dân quân chưa lộ mặt ở lại bám dân, xây dựng cơ sở, toàn bộ lực lượng còn lại di chuyển ra khỏi xã, dựa vào các thôn Linh Yên, Chợ Cạn, ban đêm trở về xã hoạt động, để khỏi mất liên lạc với dân.
Được một thời gian thì Linh Yên và Chợ Cạn cũng bị địch chiếm đóng, một lần nữa cán bộ và du kích xã phải di chuyển lên vùng tiền chiến khu đóng tại Tràu thuộc xã Triệu Sơn và ban đêm lại thay nhau trở vể xã hoạt động. Việc đi lại từ chiến khu về xã gặp rất nhiều khó khăn phức tạp, đường xa lại phải vượt qua đường số 1 và lội qua sông Thạch Hãn, trong tình hình địch thường tổ chức phục kích trên đường và ca nô tuần tiểu dưới sông, nên chỉ sau một thời gian, đã có một số cán bộ du kích bắt đầu chán nản. Có người bỏ đi nơi khác buôn bán làm ăn, một số chạy lên Ba Lòng tham gia công tác tại một số cơ quan của tỉnh, số còn lại trong đó có tôi thì kéo nhau ra bìa rừng che lán ở; phát rẫy trồng sắn, trồng khoai để giải quyết vấn đề lương thực trong lúc mất liên lạc với dân. Đây là thời kỳ đen tối nhất: gần một trung đội du kích bị thương vong trong trận càn đầu tiên vì chủ quan và thiếu kinh nghiệm chiến đấu. Tôi còn nhớ được một số người sau đây : Thôn Gia Hộ : ông Hồ Khắc bị địch bắt và chặt đầu cắm ở cầu Đại Hào trên đường Cửa Việt, các ông Trần Thưởng, Nguyễn Y, Hoàng Khôi và Hoàng Đồng bị bắn chết tại địa phương, anh Trần Hẹ bị địch phục kích bắn chết tại đập Xuân Thành, anh Nguyễn Hưng trúng đạn ca nông chết tại thôn Phú Tài, ông Nguyễn Duy và anh Hoàng Đỉu chết vì sốt rét, ông Hồ Kiệm, Hoàng Phùng, Nguyễn Lẩm và Nguyễn Thoan và Trần Oanh, Trần Hựu bị địch bắt và thủ tiêu mất tích, anh Hồ Trữ và Hồ Cặn bị thương nặng, được đưa ra Nghệ An điều trị v.v... Thôn An Giạ: anh Lê Chiếm bị địch bắt và bị bắn tại đồn Gia Độ. Thôn Giáo Liêm có anh Trương Thắng và một số du kích bị bắt và bị bắn chết tại Gia Độ, thôn Thanh Liêm: anh Đạt đi dân công bị phục kích chết tại đường số 1, v.v... và còn một số người khác ở khắp các thôn trong xã mà tôi không nhớ hết.
Ngoài ra còn có một số cán bộ và du kích đã dinh tê đầu hàng giặc như các tên : Trân Bờ và Hoàng Đồng (Bộ Dược) thôn Gia Độ, Phan Tượng, Trương Lỵ, Viên Vỵ thôn Giáo Liêm, tên Hưu ở thôn Thanh Liêm, tên Từ thôn Quảng Lượng, tên Trầm ở Phúc Lộc, tên Dương ở Dương Lệ, tên Ngọc ở Phú Tài lần lượt ra đầu thú kẻ thù.v.v…
Tuy mất liên lạc với địa phương, nhưng thỉnh thoảng tôi vẫn liên lạc với Huyện ủy tại Trấm, phản ảnh tình hình và xin ý kiến chỉ đạo, lúc đó đồng chí Hiền bí thư đã lên Ba Lòng làm cán bộ thông tin tỉnh và đồng chí Long chủ tịch thì sơ tán một nơi nào không ai biết. Khoảng tháng 12 năm 1947, Thường vụ Huyện ủy trực tiếp gặp anh em cán bộ và du kích xã còn lại tại Triệu Sơn. Sau khi trao đổi tình hình, Thường vụ quyết định củng cố lại tổ chức. Như đã nói ở phần trên, Huyện ủy giao trách nhiệm cho tôi trực tiếp phụ trách đưa anh em trở về đồng bằng bám dân, bám đất, xây dựng cơ sở, chiến đấu lâu dài, không được bỏ dân, xa rời cơ sở. Lúc đó bản thân tôi và một số anh em đang bị sốt rét nặng, tôi giành một tháng chuẩn bị và làm công tác tư tưởng, anh em được bàn bạc dân chủ và thông suốt chủ trương trở về bám đất, bám dân. Mặc dù thấy được khó khăn, nguy hiểm nhưng anh em đều tự nguyện vui vẻ, không có ai bàn lùi, run sợ.
Khoảng một tháng sau, tất cả anh em đều chuyển về đồng bằng phân tán ở hai thôn Lập Thạch và Trung Chỉ. Hàng ngày phân công nhau ra bến đò An Giạ chờ gặp người quen thân để nắm tình hình và bắt liên lạc với cơ sở nằm vùng. Quanh quẩn ở Lập Thạch và Trung Chỉ gần một tháng, lòng tôi như lửa đốt, có lúc hoang mang dao động, đấu tranh dữ dội giữa cái sống và cái chết : Về xã ư? là lao vào vùng tử địa. Trở lại chiến khu ư? là không làm tròn nhiệm vụ trên giao, vi phạm nguyên tắc tổ chức của Đảng! Cuối cùng tôi quyết định để anh em tạm ở lại, bản thân về trước tìm cách liên lạc với số đảng viên cũ và một số quần chúng tốt để chuẩn bị điều kiện cho anh em trở về bám trụ. Đầu tiên đặt chân về thôn An Lợi trong hoàn cảnh địch hoàn toàn làm chủ, tất cả các thôn đều có Hội tề Hương vệ, lính đồn đi lại tự do. Tôi tìm gặp một số đảng viên nằm vùng, truyền đạt chỉ thị của Huyện ủy và yêu cầu các đảng viên bố trí cho tôi ở lại một thời gian để nghiên cứu đưa chính quyền về hoạt động.
Thời gian ở đây được gia đình các đồng chí Bích, Thùy, Oa luân phiên nuôi giấu và giúp đỡ chữa bệnh, ban ngày ngồi trong buồng viết truyền đơn, khẩu hiệu, ban đêm đi dán khẩu hiệu và thăm viếng bà con, lần lượt từ thôn này sang thôn khác. Địch nhặt gỡ ở thôn này thì truyền đơn lại xuất hiện ở thôn khác. Sau hơn 2 tháng thăm dò dư luận, tình hình có những diễn biến tốt, một số binh lính địch bắt đầu hoang mang, dao động, một số quần chúng nhân dân biểu thị thái độ phấn khởi tin tưởng, tôi liền trở lại chiến khu báo cáo tình hình cho huyện biết và quyết định đưa chính quyền về xã, đặt trụ sở tại thôn Phú Tài, cán bộ du kích bố trí phân tán ai về thôn nấy, tối đến tập trung về trụ sở để phân công hoạt động. Mỗi cán bộ, du kích phải có từ một đến hai hầm bí mật tại chỗ để tránh địch, không được thoát ly ra khỏi xã.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét