Vnđb tháng 12 kỳ II
Hồ Tĩnh Tâm
TẠO NGUỒN NHÂN LỰC CHO ĐBSCL
Bạn nghe Đài thân mến!
"Với diện tích hơn 39.560Km2, rộng gấp ba lần đồng bằng sông Hồng, bao gồm 13 tỉnh, đồng bằng sông Cửu Long nằm ở cực Nam tổ quốc, là một trong hai vựa lúa lớn của cả nước. Mặc dù có được những kết quả nhất định trong công cuộc phát triển giáo dục, góp phần tăng trưởng kinh tế, bảo đảm ổn định chính trị, an ninh xã hội; thế nhưng đến thời điểm này, giáo dục ĐBSCL chưa gặt hái được những mùa vàng, thậm chí vẫn trong trạng thái tụt hậu. Để vươn lên tương xứng với tầm vóc, vị thế chiến lược của vùng, giáo dục ĐBSCL rất cần một chiến lược phát triển gắn với đặc thù, một sự hỗ trợ tổng lực các nguồn lực, hội tụ cả trí tuệ lẫn tấm lòng cả nước". Đó là một nhận định của nhóm phóng viên Ban Khoa Giáo báo Nhân dân, đăng trên báo nhân dân, số ra ngày 10 &11 tháng 9 năm 2005. Từ nhận định này, rõ ràng chúng ta đang đứng tước một vấn đề vô cùng bức xúc về chiến lược phát triển giáo dục, để tạo nguồn nhân lực cho cả khu vực ĐBSCL rộng lớn.
Trong chương trình văn nghệ đồng bằng hôm nay, chúng tôi sẽ đề cập đến một phần về vấn đề này. Trước hết mời các bạn nghe mục điểm tin văn nghệ trong tuần.
Nhạc cắt.
TIN TỨC
1.
Theo tin từ Hội VHNT Tiền Giang, cuộc thi ảnh nghệ thuật đồng bằng sông Cửu Long đã có kết quả 27 giải thưởng. Ảnh màu có 1 vàng, 1 bạc, 5 đồng và 8 khuyến khích. Ảnh đen trắng có 1 vàng, 1 bạc, 3 đồng và 5 khuyến khích. Riêng phân hội Nhiếp ảnh Vĩnh Long có 11 tác phẩm tham dự (10 ảnh màu và 1 ảnh đen trắng. Tác phẩm "Ước mơ bay xa" của Nguyễn Vinh Hiển đoạt giải khuyến khích.
2.
Vừa qua, tại Hà Nội, tạp chí Văn hiến Việt Nam và Bộ Văn hoá Thông tin, kết hợp với Hội nhạc sĩ Việt Nam, đã tổ chức lễ mừng thọ giáo sư tiến sĩ âm nhạc trần Văn Khê, nhân dịp ông 85 tuổi, và trao giải thưởng Đào Tấn cho ông. Phát biểu tại buổi Lễ, nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm, uỷ viên Ban bí thư TW Đảng, trưởng Ban Văn hoá Tư tưởng TW, đã đánh giá rất cao những công lao, cống hiến của gsts Trần Văn Khê cho sự nghiệp đào tạo và giới thiệu nền âm nhạc truyền thống Việt Nam ra thế giới, và chúc ông sức khoẻ, trường thọ.
3.
Tạp chí văn nghệ Cửu Long, số đặc biệt chào mừng Đại hội đại biểu đảng bộ tỉnh Vĩnh Long lần thứ 8, đã chính thức phát hành vào thứ hai ngày 12 tháng 12 năm 2005. Tạp chí vẫn giữ độ dày 140 trang như thường lệ, nhưng có giành nhiều bài chuyên trang để giới thiệu về huyện Mang Thít. Đặc biệt, trong số này, tạp chí có đăng bài phỏng vấn đồng chí Nguyễn Văn Quân, UVTW Đảng, Bí thư tỉnh uỷ Vĩnh Long, do tác giả Nguyễn San thực hiện. Phần chào mừng Đại hội đại biểu tỉnh Đảng bộ, tạp chí ưu tiên giới thiệu tóm tắt lần lượt thành tích 30 năm của tất cả các huyện thị trong tỉnh. Phần văn học vẫn có mặt các tác giả trong và ngoài tỉnh, tương đối quen thuộc với bạn đọc văn nghệ Vĩnh Long; trong đó có truyện ngắn "Cái tủ thờ" của tác giả Trần Thôi, đạt giải ba truyện ngắn TP Cần Thơ năm 2005. Về âm nhạc, có 3 ca khúc được giới thiệu, gồm: "Chiều trên sông Mỹ An" của Hồ Tĩnh Tâm, "Ơn người trồng hoa" của Xuân Điền, "Vàm Lịch mùa bông tra nở" của Thành Công phổ thơ An Phương. Về mĩ thuật có hai tác phẩm "Bên cầu Mỹ Thuận" của Trần Minh Thái và "Khởi nghĩa Vũng Liêm" của Công Tân. Ảnh Mĩ thuật có "Đợi" của Quốc Nguyên, "Đất lành" của Thanh Bình, "Hoa đồng nội" của Thanh Hải. Trang áo trắng có đăng bài thơ "Tâm tình cô giáo trẻ" của Phạm Võ Đức Trung, người vừa được giải nhất cuộc thi thơ của CLB sáng tác Khoa Văn - Ngoại ngữ, Trường Đại học dân lập Vĩnh Long. Trang thơ Người cao tuổi có mặt các tác giả Quý Nghĩa, Phan Quốc Bổn, Nguyễn Trân, Trăng Cửu Long, Đỗ Văn Kính, Nguyễn Hồng Trung, An Trường Mai, Bình Tam Lê, Lê Minh Tuân, Tùng Sơn, Vũ Hải Bằng, Tân Nguyên, Hoàng Giang. Ngoài ra tạp chí còn đăng tải nhiều chuyên mục khác, giới thiệu nhân vật lịch sử, lý luận phê bình, tác phẩm đầu tay, lịch sử văn hóa, sân khấu và tin tức văn nghệ.
4.
Tạp chí Thế giới ảnh vừa ra thông báo về cuộc thi Ảnh nghệ thuật Việt Nam, với một số thể lệ như sau: Cuộc thi bao gồm ảnh đơn, ảnh bộ, khổ 25x38Cm và 30x45Cm, mỗi tác phẩm phải kèm thêm 1 ảnh nhỏ khổ 13x18Cm, sử dụng phim và giấy Kodak. Ảnh đơn không hạn chế số lượng. Ảnh bộ từ 6 đến 10 ảnh trên một bộ, thời hạn chót gởi ảnh dự thi về Tạp chí Thế giới ảnh là ngày 28 tháng 2 năm 2006.
Ảnh đơn: 1 giải nhất 15 triệu đồng, kèm 1 máy ảnh Kodak kỹ thuật số giá 579 USD. 1 giải nhì 10 triệu đồng, kèm 1 máy ảnh Kodak kỹ thuật số giá 509 USD. 1 giải ba 5 triệu đồng, kèm 1 máy ảnh Kodak kỹ thuật số giá 469 USD. 3 giải khuyến khích 2triệu đồng.
Ảnh bộ: 1 giải nhất 10 triệu đồng. 1 giải nhì 7 triệu đồng. 1 giải ba 4 triệu đồng.
Ngoài ra cuộc thi còn trao nhiều giải thưởng khác cho một số đề tài mang tính xã hội nhân văn. Mọi thể lệ về cuộc thi, mời các bạn liên hệ với Hội VHNT Vĩnh Long để được biết thêm chi tiết.
5.
Để phục vụ cho tạp chí Xuân Bính Tuất năm 2006, tạp chí văn nghệ Trà Vinh có tổ chức một chuyến thực tế sáng tác tại huyện Cầu Kè; trên tinh thần này, Hội VHNT Trà Vinh có mời một số tác giả Vĩnh Long cùng tham dự trong hai ngày 13 và 14 tháng 12 năm 2006. Phía Hội VHNT Vĩnh Long đã chấp thuận cho các tác giả Hồ Tĩnh Tâm, Song Hảo, Trần Thôi, An Phương và Ngọc Hiệp tham dự.
Nhạc cắt.
SỰ KIỆN VÀ BÌNH LUẬN
Bạn nghe Đài thân mến!
Như phần đầu chúng tôi đã đưa tin về nhận định của nhóm phóng viên Ban Khoa giáo báo Nhân dân, đối với công tác giáo dục và phát triển nguồn nhân lực cho ĐBSCL, tiếp theo chương trình VNĐB hôm nay, chúng tôi xin dẫn một vài ý kiến của nhà văn Hồ Tĩnh Tâm về vấn đề này.
Đồng bằng sông Cửu Long là một vùng đất rộng lớn, có lịch sử hình thành rất phức tạp. Về kiến tạo địa lý, đây là một vùng đất có mạng lưới kinh rạch chằng chịt vào bậc nhất thế giới, với chiều dài hơn 5.000 km; vừa có đồng bằng, vừa có núi và biển; chính vì vậy việc đi lại học hành của học sinh rất khó khăn- nhất là ở các tỉnh Sóc Trăng, Cà Mau và Kiên Giang. Lấy ví dụ ở Kiên Giang, trong số 13 huyện và thị xã của tỉnh, tổng cộng có tới 105 hòn đảo lớn nhỏ, trong đó có 45 đảo có dân sinh sống, hình thành 2 huyện đảo là Phú Quốc Và Kiên Hải. Không nói thì chúng ta ai cũng biết, việc đi lại giữa các đảo là rất xa, rất khó khăn, ảnh hưởng rất lớn đến việc học hành của học sinh. Trong khi đó, chủ trương xã hội hoá giáo dục để tạo nguồn nhân lực cho đất nước, lại yêu cầu ở đâu có dân cư ở đó phải có trường học. Vậy mà trong số 45 hòn đảo ngoài biển của Kiên Giang, lại có những hòn đảo nhỏ không tên tuổi, với chỉ khoảng trên dưới 10 gia đình sinh sống, rõ ràng việc mở trường là rất khó và rất tốn kém. Ngay cả một số vùng trong đất liền như U Minh Thượng, U Minh Hạ, Cái Nước, Đầm Dơi, nhiều gia đình có thói quen sống sâu trong các cánh rừng tràm, rừng đước, bị chia cắt bởi kinh rạch, việc mở trường cũng không phải chuyện bình thường. Bởi vậy ta dễ dàng hiểu ra rằng, việc nhiều em trong độ tuổi đến trường mà không được đi học, đang là một bài toán thách thức rất lớn, đặt ra cho cả khu vực. Hơn nữa, ba cái yếu mà Bộ Giáo dục và Đào tạo đã chỉ ra đối với sự tụt hậu về giáo dục ở ĐBSCL là ba chữ T, tức là yếu về tiền, yếu về trường và yếu về thầy. Đó là một sự thật. Và cũng chính vì điều đó, việc đào tạo nguồn nhân lực tại chỗ cho cả khu vực là rất hạn chế. Chúng ta được biết rằng, có một làng ở Hưng Yên mà có tới 36 tiến sĩ, trong khi đó, số tiến sĩ ở một số tỉnh thuộc khu vực ĐBSCL chỉ đếm trên đầu ngón tay. Suy nghĩ về điều này, chính là để nhanh chóng tìm ra giải pháp tích cực nhất cho Giáo dục ĐBSCL. Và nếu chịu khó nhìn nhận lại quá khứ lịch sử, chúng ta sẽ thấy, chúng ta hoàn toàn có quyền tự hào về vùng đất từng cung cấp nhiều tài năng cho đất nước. Chẳng hạn như các bậc anh hùng hào khí Nguyễn Trung Trực, Thiên Hộ Dương, Trương Công Định, Nguyễn Huỳnh Đức… cùng nhiều bậc sĩ phu học giả uyên bác như Thủ Khoa Huân, Bùi Hữu Nghĩa, Phan Văn Trị, Huỳnh Mẫn Đạt, Nguyễn Thông, Phan Thanh Giản, Võ Trường Toản. Và đặc biệt là nhà bác học Trương Vĩnh Ký, người được suy tôn là một trong 18 bác học thế giới đương thời (lưu ở viện bảo Tàng Lu Vơ Rơ- Louvre) - Ông là nhà thông thái, biết thành thạo 27 thứ tiếng, để lại hàng trăm tác phẩm có giá trị, cũng như công lao truyền bá chữ quốc ngữ và hành nghề báo chí đầu tiên ở Việt Nam. Sau này chúng ta còn có nữ sĩ Sương Nguyệt Ánh, bà Nguyễn Đức Nhuận, Đông Hồ, Mộng Tuyết, Vương Hồng Sển, Sơn Nam, gs Lương Định Của, gs Trần Đại Nghĩa, gs Trần Văn Giàu, gsts Trần Văn Khê, bác sĩ Nguyễn Văn Hưởng, gs viện sĩ Lưu Hữu Phước, các nhạc sĩ Hoàng Việt, Hoàng Hiệp, Phan Nhân, Trần Kiết Tường, các nhà văn Trang Thế Hy, Nguyễn Quang Sáng, Lê Anh Xuân, Lê Văn Thảo, Mai Văn Tạo, các hoạ sĩ Diệp Minh Châu, Nguyễn Sáng, Huỳnh Phương Đông, Nguyễn Hải… Vì vậy vùng đất ĐBSCL có thể được coi là một trong những cái nôi từng cung cấp nhiều nhân tài cho đất nước. Vậy thì việc hạn chế và tụt hậu trong phát triển Giáo dục và Đào tạo là ở đâu? Rõ ràng là ở hình thái địa lý và thời tiết mà ai cũng thấy rất rõ. Đó là sự chia cắt của kinh rạch chằng chịt, của mùa nước nổi kéo dài, làm cho tình trạng giao thông đến nay vẫn phát triển rất chậm, hạn chết rất lớn đến việc lưu thông đi lại làm ăn và học tập. Trong phạm vi chương trình, chúng tôi không thể đề cập nhiều hơn đến vấn đề này, mà chỉ đặt ra như là một sự trăn trở, để chúng ta cùng suy nghĩ tháo gỡ về giải pháp và hành động.
Âm nhạc:
Phát bài "Bài ca hy vọng"
TÁC GIẢ TÁC PHẨM
Bạn nghe Đài thân mến!
Trong phần cuối của chương trình, mời các bạn cùng nhà văn Hồ Tĩnh Tâm làm quen với soạn giả Trần Mộng, một trong những cánh chim đầu đàn của nền sân khấu Vĩnh Long Hiện nay.
Khoảng cuối thập kỷ 90 thế kỷ trước, do công việc, tôi hay có mặt ở văn phòng Hội Văn học Nghệ thuật Vĩnh Long, ngồi uống trà và tán dóc đủ thứ chuyện trên đời với anh em. Một lần tôi thấy có người đàn ông cao, gầy,nước da hơi tái vận cái áo mưa cũ bước vào. Ông cười rất tươi. Gương mặt có nét phúc hậu. Mấy chị ở văn phòng sôi nổi hẳn lên, xúm tới bắt tay và hỏi thăm người đàn ông một cách niềm nở; tíu tít như con cháu gặp ông ngoại về thăm nhà. Bên ngoài, trời đang mưa lớn. Chị Phướn chăm bình trà mới mời người đàn ông ngồi chơi, nhưng ông có vẻ như đang bận việc gì, bắt tay giáp lượt mọi người, hỏi han vài câu xong là tất tả trở ra, nổ máy chiếc mobilet, mất hút ngay vào màn mưa dày đặc.
Song Hảo nói với tôi:
- Soạn giả Trần Mộng đó. Ông tới giao trái dâu. Dâu nuôi tằm.
Bấy giờ tôi chưa biết gì về Trần Mộng, bởi lẽ tôi mù tịt về loại hình nghệ thuật sân khấu cải lương; nhưng thấy một người lớn tuổi đi bán trái dâu mà ai trong văn phòng cũng tôn trọng, tôi cũng đâm ra tò mò.
Té ra ông từng là cấp trên của tôi mà tôi không biết. Ông thuộc vào hàng lãnh đạo một "binh chủng" văn nghệ của tỉnh từ những năm đầu sau đồng khởi. Kể về thành tích thì ông có cả một núi, tính từ ngày ông quảy nóp theo cách mạng vào ngày 15 tháng 11 năm 1945. Cũng từng là lính chiến, đụng trận ì đùng, bị thương như cơm bữa. Nhưng duyên nợ "ba sinh" của ông là với đoàn văn công của tỉnh, với sân khấu cải lương của tỉnh. Duyên nợ tới mức, có lần ở Vũng Liêm, giữa ba bề bốn bên kẻ thù vây bủa, đoàn cải lương vẫn vừa tập vở diễn, vừa hối thúc kịch bản mới phục vụ cho yêu cầu chiến dịch; bấn bí quá, Trần Mộng vừa lãnh nhiệm vụ canh gác, vừa rị mọ gò từng chữ từng câu một tập bản thảo viết trên giấy vở học trò. Để làm được điều đó, tất nhiên Trần Mộng không thể ngồi ở bất cứ nơi nào trên mặt đất, thành thử ông phải nảy nòi sáng kiến, leo lên chót vót trên đọt một cây me, cách cụm dừa địch đóng quân chừng 500 mét, vừa dõi mắt canh chừng vừa chấp bút. Từ trên cao, ông thấy tất cả, và ông gom tất cả vào tác phẩm "Lửa đốt màn đêm" đầy sức lửa.
Duyên nợ với tổ nghiệp của Trần Mộng là duyên nợ của máu lửa chiến tranh giải phóng, chứ không chỉ đơn thuần là duyên nợ trên từng trang viết. Có một chuyện ở ngọn Cái Lá, Mỹ Lộc, Tam Bình vào dịp chuẩn bị đón mùa xuân Tổng tiến công năm 68. Chiến trường sôi sục bom đạn. Đoàn văn công rối bời công việc chuẩn bị các vở diễn phục vụ tạo khí thế ra quân. Trần Mộng tranh thủ viết ngày viết đêm. Đến tháng 10 thì hoàn thành kịch bản. Bom pháo và bộ binh quân lực Sài Gòn coi ngọn Cái Lá là vùng oanh kích tự do, cứ tha hồ mà trút bom đạn và hàng loạt trận hành quân càn quét như mưa như bão. Giữa giông tố lửa đạn tơi bời ấy, Trần Mộng thông qua bản thảo cho trưởng đoàn văn công Mười Xã nghe. Kế anh là chị Huỳnh Thanh Trang đang hướng dẫn biên đạo một vỡ múa. Giữa bời bời bom pháo, một trái bom tai ác đã nhắm vào họ. Mười Xã gục xuống. Máu ông nhuộm đỏ cả tập bản thảo của Trần Mộng. Huỳnh Thanh Trang may mắn thoát chết trong gang tấc, nhưng bị trọng thương phải điều tị một thời gian khá dài.
Duyên nợ với nghiệp đeo đẳng Trần Mộng trên từng bước hành quân đầy cam go, thử thách. Có lúc ông phải tổ chức cho đoàn cải lương của mình vừa đi vừa diễn. Anh chị em ngoài súng đạn phòng vệ, còn phải bố trí cụ bị phông màn, trang phục, đèn măng sông, máy phát điện, dụng cụ tăng âm, nhạc cụ, loa phóng thanh… và… trong tình hình căng thẳng, còn phải vác theo cả nắp hầm trên lưng. Lúc biểu diễn cho bộ đội xem ngay tại mặt trận. Lúc phục vụ cho đồng bào ở nơi vừa giải phóng. Lúc đeo bám sát hàng rào đồn địch mà phát thanh các bài bản địch vận. Có lúc đoàn dựng rạp chỉ cách đồn lính chừng nửa cây số. Sự nguy hiểm là không thể tránh khỏi.
Năm 1971, vào dịp tết Chol Th/nam Th/may, Trần Mộng cùng với đoàn văn công của ông được lệnh về phục vụ bà con Khmer ở Bình Minh; bằng lập luận chặt chẽ, đầy tình đầy nghĩa, Trần Mộng đã thuyết phục được Lục Ly chùa Toà Sen chấp nhận cho trình diễn trong khuôn viên sân chùa. Hàng trăm bà con và sư sãi xã Đông Thành đã rùng rùng kéo đến xem từ các ấp chiến lược. Chương trình ca múa nhạc Kinh - Khmer kéo dài suốt ba tiếng, rộn ràng lời ca tiếng nhạc, vậy mà 50 binh lính đồn Lục Ly và chánh quyền địa phương sở tại vẫn phải nhượng bộ. Nhưng tên cầm đầu quận Bình Minh thì lồng lộn căm tức, ra lệnh càn vào trả đũa tại ấp Hoá Thành, nơi đoàn văn công đang đứng chân. Cùng với du kích xã, anh chị em trong đoàn đã cầm súng chiến đấu chống trả một cách quyết liệt. Nhưng do thế địch mạnh hơn, lại được chi viện bằng máy bay và phi pháo, đoàn phải lệnh cho chị em phụ nữ rút xuống hầm bí mật, còn anh em thì vừa chống trả vừa rút lui để bảo toàn lực lượng. Trong lúc dồn sức mở đường máu rút lui, anh em bắn hạ một số tên địch ngay gần miệng hầm của một số đồng chí nữ. Không may bọn địch lúc loay hoay kéo xác đồng bọn, một tên đạp nhầm nắp hầm làm tróc ra. Vậy là chúng lập tức dùng mìn tấn công. Hai diễn viên Út Hương và Cẩm Lệ ở dưới hầm đã hy sinh tại chỗ. Đồng chí Lê Hữu Nghĩa chồm mình bắn trả để giải vây cho đồng đội, hứng trọn một băng đạn vào lồng ngực trẻ, cũng gục xuống tại đây. Nhưng đau thương không dừng lại. 15 ngày sau đó, để chuẩn bị hồi phục cho những chương trình phục vụ tiếp theo, diễn viên Thanh Giang (chồng của nữ đồng chí sáu Gái), đã xung phong một mình một súng, xuyên đồng vượt lộ, tìm ra xã Mỹ Hoà, móc nối bà con nhờ mua dây đàn ghitar. Chẳng may anh rơi vào ổ phục kích của địch, anh đã anh dũng chiến đấu và hy sinh ngay trên đường làm nhiệm vụ.
Khó khăn gian khổ và hy sinh mất mát trong chiến tranh thì không thể nào nói hết. Với Trần Mộng, để biến đau thương thành hành động, ông dồn tất cả sức lực và tình yêu thương, căm hận cho từng trang bản thảo. Theo thời gian, số lượng tác phẩm của ông ngày càng nhiều, với rất nhiều thể loại; và điều lớn lao hơn tất cả, là các tác phẩm ra đời trong máu lửa chiến tranh ấy, khi dàn dựng công diễn, bao giờ cũng chiếm được tình cảm của bà con và đồng đội đồng chí; đồng thời cũng khuất phục được kẻ thù bằng tình cảm của tinh thần chính nghĩa cao cả.
Có một chuyện vui mà cả đời mình, có thể Trần Mộng không bao giờ quên được. Đó là lần đoàn văn công về xã Mỹ Thuận diễn vở "Con đường đã chọn" của ông, do ông biên soạn và dàn dựng. Vỡ diễn này có đoạn người con trai lạy mẹ để xin lên đường nhập ngũ, nhưng người mẹ muốn thử lòng con, cứ khăng khăng một mực không cho. Con càng xin mẹ càng chỉ ra khó khăn, chết chóc mà không chịu. Đến lúc người mẹ chỉ tay vào mặt con hỏi: "Thôi được! Mầy không sợ chết, không sợ khổ, nhưng mầy đi thì tao sống với ai!? (vai này do Thanh Phượng đóng)". Một bà má ngồi xem bên dưới, bức xúc quá, trèo ngay lên sàn diễn, vừa đưa tay chặm nước mắt, vừa móc túi lấy ra một nắm tiền: "Bà ở nhà, không ai bỏ bà đâu. Bà nên cho nó tòng quân. Nè con ơi, cầm lấy tiền rồi yên tâm mà đi!". Cả Thanh Phượng và người bạn diễn đều ngồi ngây ra vì bất ngờ. Trần Mộng đứng sau cánh gà gỡ bí bằng cách nhắc tuồng diễn tiếp đoạn sau, đoạn mẹ nói với con là mẹ chỉ thử lòng con có kiên định lập trường. Thanh Phượng sáng trí diễn tiếp. "Bà chị ơi! Tôi chỉ thử lòng con, xem ý chí của con, chớ nào phải đâu tôi không giác ngộ cho con tòng quân". Bà mẹ trên sân khấu và bà mẹ ngoài đời ôm lấy nhau mà khóc. Bên dưới, bà con đứng cả dậy, vỗ tay hoan hô rầm trời. Nhiều người xúc động quá, vừa cười vừa khóc sụt sịt.
Thành công trên bước đường sáng tác của Trần Mộng, không chỉ được khẳng định trong những năm tháng lăn lóc theo đoàn văn công kháng chiến, mà nó còn được nhân lên từ sau ngày Miền Nam hoàn toàn giải phóng, khi ông chính thức lãnh cương vị trưởng đoàn cải lương Cửu Long. Với thành tích ấy, ông đã chính thức được kết nạp vào Hội Sân khấu Việt Nam, trở thành linh hồn của phân hội sân khấu, Hội văn học nghệ thuật Vĩnh Long. Nhưng dù ở cương vị nào thì bản chất con người của ông vẫn không thay đổi.
Việc đến tuổi nghỉ hưu với Trần Mộng là vô cùng nhẹ nhỏm, như ông từng tâm sự với bạn bè: hết quan hoàn dân, cần nhất là phải làm một công dân tốt.
Nhạc cắt.
Bạn nghe Đài thân mến!
Chương trình VNĐB của Đài chúng tôi hôm nay đến đây là hết. Hẹn gặp lại các bạn vào chương trình này tuần sau! Thân ái chào tạm biệt!
Hồ Tĩnh Tâm
TẠO NGUỒN NHÂN LỰC CHO ĐBSCL
Bạn nghe Đài thân mến!
"Với diện tích hơn 39.560Km2, rộng gấp ba lần đồng bằng sông Hồng, bao gồm 13 tỉnh, đồng bằng sông Cửu Long nằm ở cực Nam tổ quốc, là một trong hai vựa lúa lớn của cả nước. Mặc dù có được những kết quả nhất định trong công cuộc phát triển giáo dục, góp phần tăng trưởng kinh tế, bảo đảm ổn định chính trị, an ninh xã hội; thế nhưng đến thời điểm này, giáo dục ĐBSCL chưa gặt hái được những mùa vàng, thậm chí vẫn trong trạng thái tụt hậu. Để vươn lên tương xứng với tầm vóc, vị thế chiến lược của vùng, giáo dục ĐBSCL rất cần một chiến lược phát triển gắn với đặc thù, một sự hỗ trợ tổng lực các nguồn lực, hội tụ cả trí tuệ lẫn tấm lòng cả nước". Đó là một nhận định của nhóm phóng viên Ban Khoa Giáo báo Nhân dân, đăng trên báo nhân dân, số ra ngày 10 &11 tháng 9 năm 2005. Từ nhận định này, rõ ràng chúng ta đang đứng tước một vấn đề vô cùng bức xúc về chiến lược phát triển giáo dục, để tạo nguồn nhân lực cho cả khu vực ĐBSCL rộng lớn.
Trong chương trình văn nghệ đồng bằng hôm nay, chúng tôi sẽ đề cập đến một phần về vấn đề này. Trước hết mời các bạn nghe mục điểm tin văn nghệ trong tuần.
Nhạc cắt.
TIN TỨC
1.
Theo tin từ Hội VHNT Tiền Giang, cuộc thi ảnh nghệ thuật đồng bằng sông Cửu Long đã có kết quả 27 giải thưởng. Ảnh màu có 1 vàng, 1 bạc, 5 đồng và 8 khuyến khích. Ảnh đen trắng có 1 vàng, 1 bạc, 3 đồng và 5 khuyến khích. Riêng phân hội Nhiếp ảnh Vĩnh Long có 11 tác phẩm tham dự (10 ảnh màu và 1 ảnh đen trắng. Tác phẩm "Ước mơ bay xa" của Nguyễn Vinh Hiển đoạt giải khuyến khích.
2.
Vừa qua, tại Hà Nội, tạp chí Văn hiến Việt Nam và Bộ Văn hoá Thông tin, kết hợp với Hội nhạc sĩ Việt Nam, đã tổ chức lễ mừng thọ giáo sư tiến sĩ âm nhạc trần Văn Khê, nhân dịp ông 85 tuổi, và trao giải thưởng Đào Tấn cho ông. Phát biểu tại buổi Lễ, nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm, uỷ viên Ban bí thư TW Đảng, trưởng Ban Văn hoá Tư tưởng TW, đã đánh giá rất cao những công lao, cống hiến của gsts Trần Văn Khê cho sự nghiệp đào tạo và giới thiệu nền âm nhạc truyền thống Việt Nam ra thế giới, và chúc ông sức khoẻ, trường thọ.
3.
Tạp chí văn nghệ Cửu Long, số đặc biệt chào mừng Đại hội đại biểu đảng bộ tỉnh Vĩnh Long lần thứ 8, đã chính thức phát hành vào thứ hai ngày 12 tháng 12 năm 2005. Tạp chí vẫn giữ độ dày 140 trang như thường lệ, nhưng có giành nhiều bài chuyên trang để giới thiệu về huyện Mang Thít. Đặc biệt, trong số này, tạp chí có đăng bài phỏng vấn đồng chí Nguyễn Văn Quân, UVTW Đảng, Bí thư tỉnh uỷ Vĩnh Long, do tác giả Nguyễn San thực hiện. Phần chào mừng Đại hội đại biểu tỉnh Đảng bộ, tạp chí ưu tiên giới thiệu tóm tắt lần lượt thành tích 30 năm của tất cả các huyện thị trong tỉnh. Phần văn học vẫn có mặt các tác giả trong và ngoài tỉnh, tương đối quen thuộc với bạn đọc văn nghệ Vĩnh Long; trong đó có truyện ngắn "Cái tủ thờ" của tác giả Trần Thôi, đạt giải ba truyện ngắn TP Cần Thơ năm 2005. Về âm nhạc, có 3 ca khúc được giới thiệu, gồm: "Chiều trên sông Mỹ An" của Hồ Tĩnh Tâm, "Ơn người trồng hoa" của Xuân Điền, "Vàm Lịch mùa bông tra nở" của Thành Công phổ thơ An Phương. Về mĩ thuật có hai tác phẩm "Bên cầu Mỹ Thuận" của Trần Minh Thái và "Khởi nghĩa Vũng Liêm" của Công Tân. Ảnh Mĩ thuật có "Đợi" của Quốc Nguyên, "Đất lành" của Thanh Bình, "Hoa đồng nội" của Thanh Hải. Trang áo trắng có đăng bài thơ "Tâm tình cô giáo trẻ" của Phạm Võ Đức Trung, người vừa được giải nhất cuộc thi thơ của CLB sáng tác Khoa Văn - Ngoại ngữ, Trường Đại học dân lập Vĩnh Long. Trang thơ Người cao tuổi có mặt các tác giả Quý Nghĩa, Phan Quốc Bổn, Nguyễn Trân, Trăng Cửu Long, Đỗ Văn Kính, Nguyễn Hồng Trung, An Trường Mai, Bình Tam Lê, Lê Minh Tuân, Tùng Sơn, Vũ Hải Bằng, Tân Nguyên, Hoàng Giang. Ngoài ra tạp chí còn đăng tải nhiều chuyên mục khác, giới thiệu nhân vật lịch sử, lý luận phê bình, tác phẩm đầu tay, lịch sử văn hóa, sân khấu và tin tức văn nghệ.
4.
Tạp chí Thế giới ảnh vừa ra thông báo về cuộc thi Ảnh nghệ thuật Việt Nam, với một số thể lệ như sau: Cuộc thi bao gồm ảnh đơn, ảnh bộ, khổ 25x38Cm và 30x45Cm, mỗi tác phẩm phải kèm thêm 1 ảnh nhỏ khổ 13x18Cm, sử dụng phim và giấy Kodak. Ảnh đơn không hạn chế số lượng. Ảnh bộ từ 6 đến 10 ảnh trên một bộ, thời hạn chót gởi ảnh dự thi về Tạp chí Thế giới ảnh là ngày 28 tháng 2 năm 2006.
Ảnh đơn: 1 giải nhất 15 triệu đồng, kèm 1 máy ảnh Kodak kỹ thuật số giá 579 USD. 1 giải nhì 10 triệu đồng, kèm 1 máy ảnh Kodak kỹ thuật số giá 509 USD. 1 giải ba 5 triệu đồng, kèm 1 máy ảnh Kodak kỹ thuật số giá 469 USD. 3 giải khuyến khích 2triệu đồng.
Ảnh bộ: 1 giải nhất 10 triệu đồng. 1 giải nhì 7 triệu đồng. 1 giải ba 4 triệu đồng.
Ngoài ra cuộc thi còn trao nhiều giải thưởng khác cho một số đề tài mang tính xã hội nhân văn. Mọi thể lệ về cuộc thi, mời các bạn liên hệ với Hội VHNT Vĩnh Long để được biết thêm chi tiết.
5.
Để phục vụ cho tạp chí Xuân Bính Tuất năm 2006, tạp chí văn nghệ Trà Vinh có tổ chức một chuyến thực tế sáng tác tại huyện Cầu Kè; trên tinh thần này, Hội VHNT Trà Vinh có mời một số tác giả Vĩnh Long cùng tham dự trong hai ngày 13 và 14 tháng 12 năm 2006. Phía Hội VHNT Vĩnh Long đã chấp thuận cho các tác giả Hồ Tĩnh Tâm, Song Hảo, Trần Thôi, An Phương và Ngọc Hiệp tham dự.
Nhạc cắt.
SỰ KIỆN VÀ BÌNH LUẬN
Bạn nghe Đài thân mến!
Như phần đầu chúng tôi đã đưa tin về nhận định của nhóm phóng viên Ban Khoa giáo báo Nhân dân, đối với công tác giáo dục và phát triển nguồn nhân lực cho ĐBSCL, tiếp theo chương trình VNĐB hôm nay, chúng tôi xin dẫn một vài ý kiến của nhà văn Hồ Tĩnh Tâm về vấn đề này.
Đồng bằng sông Cửu Long là một vùng đất rộng lớn, có lịch sử hình thành rất phức tạp. Về kiến tạo địa lý, đây là một vùng đất có mạng lưới kinh rạch chằng chịt vào bậc nhất thế giới, với chiều dài hơn 5.000 km; vừa có đồng bằng, vừa có núi và biển; chính vì vậy việc đi lại học hành của học sinh rất khó khăn- nhất là ở các tỉnh Sóc Trăng, Cà Mau và Kiên Giang. Lấy ví dụ ở Kiên Giang, trong số 13 huyện và thị xã của tỉnh, tổng cộng có tới 105 hòn đảo lớn nhỏ, trong đó có 45 đảo có dân sinh sống, hình thành 2 huyện đảo là Phú Quốc Và Kiên Hải. Không nói thì chúng ta ai cũng biết, việc đi lại giữa các đảo là rất xa, rất khó khăn, ảnh hưởng rất lớn đến việc học hành của học sinh. Trong khi đó, chủ trương xã hội hoá giáo dục để tạo nguồn nhân lực cho đất nước, lại yêu cầu ở đâu có dân cư ở đó phải có trường học. Vậy mà trong số 45 hòn đảo ngoài biển của Kiên Giang, lại có những hòn đảo nhỏ không tên tuổi, với chỉ khoảng trên dưới 10 gia đình sinh sống, rõ ràng việc mở trường là rất khó và rất tốn kém. Ngay cả một số vùng trong đất liền như U Minh Thượng, U Minh Hạ, Cái Nước, Đầm Dơi, nhiều gia đình có thói quen sống sâu trong các cánh rừng tràm, rừng đước, bị chia cắt bởi kinh rạch, việc mở trường cũng không phải chuyện bình thường. Bởi vậy ta dễ dàng hiểu ra rằng, việc nhiều em trong độ tuổi đến trường mà không được đi học, đang là một bài toán thách thức rất lớn, đặt ra cho cả khu vực. Hơn nữa, ba cái yếu mà Bộ Giáo dục và Đào tạo đã chỉ ra đối với sự tụt hậu về giáo dục ở ĐBSCL là ba chữ T, tức là yếu về tiền, yếu về trường và yếu về thầy. Đó là một sự thật. Và cũng chính vì điều đó, việc đào tạo nguồn nhân lực tại chỗ cho cả khu vực là rất hạn chế. Chúng ta được biết rằng, có một làng ở Hưng Yên mà có tới 36 tiến sĩ, trong khi đó, số tiến sĩ ở một số tỉnh thuộc khu vực ĐBSCL chỉ đếm trên đầu ngón tay. Suy nghĩ về điều này, chính là để nhanh chóng tìm ra giải pháp tích cực nhất cho Giáo dục ĐBSCL. Và nếu chịu khó nhìn nhận lại quá khứ lịch sử, chúng ta sẽ thấy, chúng ta hoàn toàn có quyền tự hào về vùng đất từng cung cấp nhiều tài năng cho đất nước. Chẳng hạn như các bậc anh hùng hào khí Nguyễn Trung Trực, Thiên Hộ Dương, Trương Công Định, Nguyễn Huỳnh Đức… cùng nhiều bậc sĩ phu học giả uyên bác như Thủ Khoa Huân, Bùi Hữu Nghĩa, Phan Văn Trị, Huỳnh Mẫn Đạt, Nguyễn Thông, Phan Thanh Giản, Võ Trường Toản. Và đặc biệt là nhà bác học Trương Vĩnh Ký, người được suy tôn là một trong 18 bác học thế giới đương thời (lưu ở viện bảo Tàng Lu Vơ Rơ- Louvre) - Ông là nhà thông thái, biết thành thạo 27 thứ tiếng, để lại hàng trăm tác phẩm có giá trị, cũng như công lao truyền bá chữ quốc ngữ và hành nghề báo chí đầu tiên ở Việt Nam. Sau này chúng ta còn có nữ sĩ Sương Nguyệt Ánh, bà Nguyễn Đức Nhuận, Đông Hồ, Mộng Tuyết, Vương Hồng Sển, Sơn Nam, gs Lương Định Của, gs Trần Đại Nghĩa, gs Trần Văn Giàu, gsts Trần Văn Khê, bác sĩ Nguyễn Văn Hưởng, gs viện sĩ Lưu Hữu Phước, các nhạc sĩ Hoàng Việt, Hoàng Hiệp, Phan Nhân, Trần Kiết Tường, các nhà văn Trang Thế Hy, Nguyễn Quang Sáng, Lê Anh Xuân, Lê Văn Thảo, Mai Văn Tạo, các hoạ sĩ Diệp Minh Châu, Nguyễn Sáng, Huỳnh Phương Đông, Nguyễn Hải… Vì vậy vùng đất ĐBSCL có thể được coi là một trong những cái nôi từng cung cấp nhiều nhân tài cho đất nước. Vậy thì việc hạn chế và tụt hậu trong phát triển Giáo dục và Đào tạo là ở đâu? Rõ ràng là ở hình thái địa lý và thời tiết mà ai cũng thấy rất rõ. Đó là sự chia cắt của kinh rạch chằng chịt, của mùa nước nổi kéo dài, làm cho tình trạng giao thông đến nay vẫn phát triển rất chậm, hạn chết rất lớn đến việc lưu thông đi lại làm ăn và học tập. Trong phạm vi chương trình, chúng tôi không thể đề cập nhiều hơn đến vấn đề này, mà chỉ đặt ra như là một sự trăn trở, để chúng ta cùng suy nghĩ tháo gỡ về giải pháp và hành động.
Âm nhạc:
Phát bài "Bài ca hy vọng"
TÁC GIẢ TÁC PHẨM
Bạn nghe Đài thân mến!
Trong phần cuối của chương trình, mời các bạn cùng nhà văn Hồ Tĩnh Tâm làm quen với soạn giả Trần Mộng, một trong những cánh chim đầu đàn của nền sân khấu Vĩnh Long Hiện nay.
Khoảng cuối thập kỷ 90 thế kỷ trước, do công việc, tôi hay có mặt ở văn phòng Hội Văn học Nghệ thuật Vĩnh Long, ngồi uống trà và tán dóc đủ thứ chuyện trên đời với anh em. Một lần tôi thấy có người đàn ông cao, gầy,nước da hơi tái vận cái áo mưa cũ bước vào. Ông cười rất tươi. Gương mặt có nét phúc hậu. Mấy chị ở văn phòng sôi nổi hẳn lên, xúm tới bắt tay và hỏi thăm người đàn ông một cách niềm nở; tíu tít như con cháu gặp ông ngoại về thăm nhà. Bên ngoài, trời đang mưa lớn. Chị Phướn chăm bình trà mới mời người đàn ông ngồi chơi, nhưng ông có vẻ như đang bận việc gì, bắt tay giáp lượt mọi người, hỏi han vài câu xong là tất tả trở ra, nổ máy chiếc mobilet, mất hút ngay vào màn mưa dày đặc.
Song Hảo nói với tôi:
- Soạn giả Trần Mộng đó. Ông tới giao trái dâu. Dâu nuôi tằm.
Bấy giờ tôi chưa biết gì về Trần Mộng, bởi lẽ tôi mù tịt về loại hình nghệ thuật sân khấu cải lương; nhưng thấy một người lớn tuổi đi bán trái dâu mà ai trong văn phòng cũng tôn trọng, tôi cũng đâm ra tò mò.
Té ra ông từng là cấp trên của tôi mà tôi không biết. Ông thuộc vào hàng lãnh đạo một "binh chủng" văn nghệ của tỉnh từ những năm đầu sau đồng khởi. Kể về thành tích thì ông có cả một núi, tính từ ngày ông quảy nóp theo cách mạng vào ngày 15 tháng 11 năm 1945. Cũng từng là lính chiến, đụng trận ì đùng, bị thương như cơm bữa. Nhưng duyên nợ "ba sinh" của ông là với đoàn văn công của tỉnh, với sân khấu cải lương của tỉnh. Duyên nợ tới mức, có lần ở Vũng Liêm, giữa ba bề bốn bên kẻ thù vây bủa, đoàn cải lương vẫn vừa tập vở diễn, vừa hối thúc kịch bản mới phục vụ cho yêu cầu chiến dịch; bấn bí quá, Trần Mộng vừa lãnh nhiệm vụ canh gác, vừa rị mọ gò từng chữ từng câu một tập bản thảo viết trên giấy vở học trò. Để làm được điều đó, tất nhiên Trần Mộng không thể ngồi ở bất cứ nơi nào trên mặt đất, thành thử ông phải nảy nòi sáng kiến, leo lên chót vót trên đọt một cây me, cách cụm dừa địch đóng quân chừng 500 mét, vừa dõi mắt canh chừng vừa chấp bút. Từ trên cao, ông thấy tất cả, và ông gom tất cả vào tác phẩm "Lửa đốt màn đêm" đầy sức lửa.
Duyên nợ với tổ nghiệp của Trần Mộng là duyên nợ của máu lửa chiến tranh giải phóng, chứ không chỉ đơn thuần là duyên nợ trên từng trang viết. Có một chuyện ở ngọn Cái Lá, Mỹ Lộc, Tam Bình vào dịp chuẩn bị đón mùa xuân Tổng tiến công năm 68. Chiến trường sôi sục bom đạn. Đoàn văn công rối bời công việc chuẩn bị các vở diễn phục vụ tạo khí thế ra quân. Trần Mộng tranh thủ viết ngày viết đêm. Đến tháng 10 thì hoàn thành kịch bản. Bom pháo và bộ binh quân lực Sài Gòn coi ngọn Cái Lá là vùng oanh kích tự do, cứ tha hồ mà trút bom đạn và hàng loạt trận hành quân càn quét như mưa như bão. Giữa giông tố lửa đạn tơi bời ấy, Trần Mộng thông qua bản thảo cho trưởng đoàn văn công Mười Xã nghe. Kế anh là chị Huỳnh Thanh Trang đang hướng dẫn biên đạo một vỡ múa. Giữa bời bời bom pháo, một trái bom tai ác đã nhắm vào họ. Mười Xã gục xuống. Máu ông nhuộm đỏ cả tập bản thảo của Trần Mộng. Huỳnh Thanh Trang may mắn thoát chết trong gang tấc, nhưng bị trọng thương phải điều tị một thời gian khá dài.
Duyên nợ với nghiệp đeo đẳng Trần Mộng trên từng bước hành quân đầy cam go, thử thách. Có lúc ông phải tổ chức cho đoàn cải lương của mình vừa đi vừa diễn. Anh chị em ngoài súng đạn phòng vệ, còn phải bố trí cụ bị phông màn, trang phục, đèn măng sông, máy phát điện, dụng cụ tăng âm, nhạc cụ, loa phóng thanh… và… trong tình hình căng thẳng, còn phải vác theo cả nắp hầm trên lưng. Lúc biểu diễn cho bộ đội xem ngay tại mặt trận. Lúc phục vụ cho đồng bào ở nơi vừa giải phóng. Lúc đeo bám sát hàng rào đồn địch mà phát thanh các bài bản địch vận. Có lúc đoàn dựng rạp chỉ cách đồn lính chừng nửa cây số. Sự nguy hiểm là không thể tránh khỏi.
Năm 1971, vào dịp tết Chol Th/nam Th/may, Trần Mộng cùng với đoàn văn công của ông được lệnh về phục vụ bà con Khmer ở Bình Minh; bằng lập luận chặt chẽ, đầy tình đầy nghĩa, Trần Mộng đã thuyết phục được Lục Ly chùa Toà Sen chấp nhận cho trình diễn trong khuôn viên sân chùa. Hàng trăm bà con và sư sãi xã Đông Thành đã rùng rùng kéo đến xem từ các ấp chiến lược. Chương trình ca múa nhạc Kinh - Khmer kéo dài suốt ba tiếng, rộn ràng lời ca tiếng nhạc, vậy mà 50 binh lính đồn Lục Ly và chánh quyền địa phương sở tại vẫn phải nhượng bộ. Nhưng tên cầm đầu quận Bình Minh thì lồng lộn căm tức, ra lệnh càn vào trả đũa tại ấp Hoá Thành, nơi đoàn văn công đang đứng chân. Cùng với du kích xã, anh chị em trong đoàn đã cầm súng chiến đấu chống trả một cách quyết liệt. Nhưng do thế địch mạnh hơn, lại được chi viện bằng máy bay và phi pháo, đoàn phải lệnh cho chị em phụ nữ rút xuống hầm bí mật, còn anh em thì vừa chống trả vừa rút lui để bảo toàn lực lượng. Trong lúc dồn sức mở đường máu rút lui, anh em bắn hạ một số tên địch ngay gần miệng hầm của một số đồng chí nữ. Không may bọn địch lúc loay hoay kéo xác đồng bọn, một tên đạp nhầm nắp hầm làm tróc ra. Vậy là chúng lập tức dùng mìn tấn công. Hai diễn viên Út Hương và Cẩm Lệ ở dưới hầm đã hy sinh tại chỗ. Đồng chí Lê Hữu Nghĩa chồm mình bắn trả để giải vây cho đồng đội, hứng trọn một băng đạn vào lồng ngực trẻ, cũng gục xuống tại đây. Nhưng đau thương không dừng lại. 15 ngày sau đó, để chuẩn bị hồi phục cho những chương trình phục vụ tiếp theo, diễn viên Thanh Giang (chồng của nữ đồng chí sáu Gái), đã xung phong một mình một súng, xuyên đồng vượt lộ, tìm ra xã Mỹ Hoà, móc nối bà con nhờ mua dây đàn ghitar. Chẳng may anh rơi vào ổ phục kích của địch, anh đã anh dũng chiến đấu và hy sinh ngay trên đường làm nhiệm vụ.
Khó khăn gian khổ và hy sinh mất mát trong chiến tranh thì không thể nào nói hết. Với Trần Mộng, để biến đau thương thành hành động, ông dồn tất cả sức lực và tình yêu thương, căm hận cho từng trang bản thảo. Theo thời gian, số lượng tác phẩm của ông ngày càng nhiều, với rất nhiều thể loại; và điều lớn lao hơn tất cả, là các tác phẩm ra đời trong máu lửa chiến tranh ấy, khi dàn dựng công diễn, bao giờ cũng chiếm được tình cảm của bà con và đồng đội đồng chí; đồng thời cũng khuất phục được kẻ thù bằng tình cảm của tinh thần chính nghĩa cao cả.
Có một chuyện vui mà cả đời mình, có thể Trần Mộng không bao giờ quên được. Đó là lần đoàn văn công về xã Mỹ Thuận diễn vở "Con đường đã chọn" của ông, do ông biên soạn và dàn dựng. Vỡ diễn này có đoạn người con trai lạy mẹ để xin lên đường nhập ngũ, nhưng người mẹ muốn thử lòng con, cứ khăng khăng một mực không cho. Con càng xin mẹ càng chỉ ra khó khăn, chết chóc mà không chịu. Đến lúc người mẹ chỉ tay vào mặt con hỏi: "Thôi được! Mầy không sợ chết, không sợ khổ, nhưng mầy đi thì tao sống với ai!? (vai này do Thanh Phượng đóng)". Một bà má ngồi xem bên dưới, bức xúc quá, trèo ngay lên sàn diễn, vừa đưa tay chặm nước mắt, vừa móc túi lấy ra một nắm tiền: "Bà ở nhà, không ai bỏ bà đâu. Bà nên cho nó tòng quân. Nè con ơi, cầm lấy tiền rồi yên tâm mà đi!". Cả Thanh Phượng và người bạn diễn đều ngồi ngây ra vì bất ngờ. Trần Mộng đứng sau cánh gà gỡ bí bằng cách nhắc tuồng diễn tiếp đoạn sau, đoạn mẹ nói với con là mẹ chỉ thử lòng con có kiên định lập trường. Thanh Phượng sáng trí diễn tiếp. "Bà chị ơi! Tôi chỉ thử lòng con, xem ý chí của con, chớ nào phải đâu tôi không giác ngộ cho con tòng quân". Bà mẹ trên sân khấu và bà mẹ ngoài đời ôm lấy nhau mà khóc. Bên dưới, bà con đứng cả dậy, vỗ tay hoan hô rầm trời. Nhiều người xúc động quá, vừa cười vừa khóc sụt sịt.
Thành công trên bước đường sáng tác của Trần Mộng, không chỉ được khẳng định trong những năm tháng lăn lóc theo đoàn văn công kháng chiến, mà nó còn được nhân lên từ sau ngày Miền Nam hoàn toàn giải phóng, khi ông chính thức lãnh cương vị trưởng đoàn cải lương Cửu Long. Với thành tích ấy, ông đã chính thức được kết nạp vào Hội Sân khấu Việt Nam, trở thành linh hồn của phân hội sân khấu, Hội văn học nghệ thuật Vĩnh Long. Nhưng dù ở cương vị nào thì bản chất con người của ông vẫn không thay đổi.
Việc đến tuổi nghỉ hưu với Trần Mộng là vô cùng nhẹ nhỏm, như ông từng tâm sự với bạn bè: hết quan hoàn dân, cần nhất là phải làm một công dân tốt.
Nhạc cắt.
Bạn nghe Đài thân mến!
Chương trình VNĐB của Đài chúng tôi hôm nay đến đây là hết. Hẹn gặp lại các bạn vào chương trình này tuần sau! Thân ái chào tạm biệt!
Hồ Tĩnh Tâm phụ trách

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét