Thứ Năm, 28 tháng 6, 2007

NHỮNG DẤU ẤN KHÔNG QUÊN

HỒ XUÂN LAI


MƯU TRÍ DIỆT ĐỒN ĐỊCH

Được cơ sở quần chúng cho biết quy luật phối hợp hoạt động giữa đồn Gia Độ và đồn Dương Lộc : thỉnh thoảng đồn Gia Độ gọi Hương vệ Dương Lộc phối hợp đi bắt Việt minh vể hoạt động ban đêm. Thường thường đồn Gia Độ lên gọi mở cổng vào khoảng từ 8 đến 9 giờ đêm và bao giờ cũng trở về vào khoảng 11 đến 12 giờ đêm.
Chúng thống nhất với nhau ban đêm bất cứ lính ở đơn vị nào gọi cũng không mở cổng, khi nào người Pháp gọi mới được mở cửa. Với tư cách Bí thư tôi báo cáo tình hình với Huyện ủy và đề nghị cho đánh đồn Dương Lộc, theo chiến thuật nghi binh, đóng giả một trung đội com-măng-đô và hai hàng binh giống lính đồn Gia Độ, đến gọi cổng, đột nhập bất ngờ. Huyện đội đồng ý, thương lượng với trung đoàn 95 mượn hai hàng binh Đức giả 2 tên cố vấn Pháp và mượn một số quân trang lấy được của địch, trang bị thành một trung đội Com-măng-đô (đồn Gia Độ chỉ có một trung đội) đồng thời thống nhất thời gian và cách đánh.
Một đêm tối trời, một trung đội Com-măng-đô vượt đường Cửa Việt tập kết tại thôn Phú Tài, có lực lượng du kích xã phối hợp với tư cách Hương vệ Gia Độ. Tôi vừa là người đề xuất trận đánh, vừa là chính trị viên xã đội, nên cũng tham gia trận đánh.
Khoảng 8 giờ đêm đơn vị bắt đầu xuất phát, băng qua mấy cánh đồng đến con đường cái đoạn giữa thôn An Lợi và thôn Dương Lộc, tập họp đơn vị tiến về đồn Dương Lộc. Đồn Gia Độ đã có 2 tổ du kích bịt cổng từ lúc trời mới tối.
Lúc đến cổng đồn, quân ta gọi trước chúng vẫn im lặng thỉnh thoảng ta quét đèn pin qua lại để chúng thấy trang phục và hai hàng binh mũi lỏ. Khi một hàng binh Đức gọi cổng bằng tiếng Pháp, Hương vệ mới chịu ra mở cổng. Vừa vào đến sân đồn ta đã gọi trưởng đồn tập họp Hương vệ để phối hợp đi bắt Việt minh. Trong lúc đó quân ta đã rải khắp trước sân đồn; Hương vệ vừa tập họp xong, tên đồn trưởng vừa hô nghiêm, thì quân ta áp vào 2 người trói một, bộ đội lấy súng đạn, du kích dẫn tù binh đi.
Kết quả ta tiêu diệt hoàn toàn đồn Dương Lộc, không tốn một viên đạn. Bắt được 30 tên trong đó có tên Chánh Thiệp, địch chỉ chạy thoát một số ít, trong đó có tên Kiểm Phu đồn trưởng, thu 30 khẩu súng trường và 5 két lựu đạn.
Sau trận này tòa án binh mở phiên tòa xét xử bọn phản động tại chiến khu Ba Lòng. Tôi được tòa mời đại diện cho địa phương. Tại phiên tòa nhiều người được tha bổng, một số tuyên án từ 2 đến 5 năm. Có 3 người kết án tử hình, trong đó có ông Chánh Thiệp. Sau khi nhận bản án tử hình, ông Chánh Thiệp xin được nói lời cuối cùng và khiếu nại là ông bị bắt buộc làm Chánh tổng, nhưng tôi có liên lạc với chính quyền địa phương, gặp ông Hồ Xuân Lai là người đại diện, hiện đang có mặt tại phiên tòa, mong tòa hỏi ông Lai để biết sự thật và xem xét giảm án cho tôi. Tòa tạm nghỉ 15 phút, ông Lê Nam Thắng trung đoàn trưởng làm chánh án phiên tòa, đã cho mời tôi vào trao đổi, tôi đã trình bày sự thật, phiên tòa tiếp tục làm việc và tuyên giảm án tử hình cho ông Chánh Thiệp xuống 20 năm tù giam, còn 2 người bị xử bắn ngay tại phiên tòa.
Sau đó ông Chánh Thiệp cũng chỉ bị giam có hai năm thì được tha về giao cho địa phương quản lý.

thơ Hồ Xuân Lai

thơ Hồ Xuân Lai



Mộng ảo

Tôi về thăm quê, trời heo may
Mưa phùn lất phất, gió bay bay
Đêm buồn rót chút tình mộng ảo
Một mình uống cạn với men say.

Ngoài trời gió thổi, hạt mưa bay
Trời đang dệt mộng giữa đêm này
Tôi rót giọt tình trong mộng ảo
Một mình cạn chén với men say.


Đường về quê tôi

Đường về quê tôi
Xưa đầy bom đạn
Họng súng xe tăng
Hố bom sâu thẳm.
Đường về quê tôi
Nay đã đổi thay
Dân làng phấn khởi
Lao động hăng say
Ruộng đồng xanh tốt
Phân nước đủ đầy
Nhà cửa khang trang
Đường làng sạch đẹp
Bán buôn nhộn nhịp
Người xe rộn ràng
Nước chảy quanh làng
Điện sáng lung linh
Cảnh trí văn minh
Môi trường mát mẻ.



Nơi tôi sinh

Nơi tôi sinh
Một làng quê ven bờ Thạch Hãn
Có gió Nam rát mặt
Gió Bắc rét thấu xương
Có vị mặn của sông
Có cánh đồng cò bay thẳng cánh.
Tuổi thơ
Tôi thường theo mẹ
Đi bắt ốc, hái rau
Và theo bạn chăn trâu
Ra đồng thả diều, bắt bướm.
Mẹ tôi
Thân cò lặn lội khắp nơi
Nuôi tôi như nuôi một mặt trời
Và mặt trời đã thắp sáng
Suốt đời tôi.

NHỮNG DẤU ÂN KHÔNG QUÊN

CÔNG TÁC BINH VẬN
hồ xuân lai

Lực lượng đồn Gia Độ gồm có một trung đội com-măng-đô cộng với trên 20 hương vệ thôn Gia Độ, do Cai Sướng làm đồn trưởng và Cai Dành làm đồn phó và tên Trần Văn Trí làm hương vệ trưởng dưới sự điều khiển của 2 tên lính Pháp làm cố vấn.
Sau khi xây dựng được một số cơ sở quần chúng làm chỗ dựa và chiến dịch trừ gian diệt tề kết quả tốt, tôi liền nghĩ đến công tác vận động binh lính địch. Một hôm vợ anh Trương Tấn, một đảng viên bí mật nằm vùng, cho tôi biết anh Tấn bị địch bắt làm Lý trưởng và đưa về đồn Gia Độ ở, tôi cho đây là thời cơ thuận lợi, nên động viên chị yên tâm bảo anh Tấn cứ ở yên trong đồn theo dõi nắm tình hình binh lính địch và tạo mọi điều kiện phối hợp với Ủy ban tiến hành công tác địch vận và thông qua cô vợ để liên lạc thường xuyên với ủy ban. Ngoài ra còn có anh Ngô Cháu, đảng viên ở Phú Tài và anh Trương Đỉnh, quần chúng tốt ở Trung Yên hình thành một tổ binh vận nằm ngay trong đồn địch.
Để hỗ trợ cho đồng chí Tấn có cơ sở làm công tác tuyên truyền vận động trong hàng ngũ binh lính địch, tôi bàn với xã đội cho du kích quấy rối thường xuyên, làm cho chúng mất ăn mất ngủ, đồng thời bố trí hai thanh nữ ở thôn Gia Độ là cô Hoàng Thị Diệm và cô Nguyễn Thị Trương thực hiện mỹ nhân kế, thường xuyên giao thiệp với bọn lính trong đồn, đặc biệt chú ý tên cai Sướng và tên cai Giành là hai tên đồn trưởng và đồn phó.
Do có thế lực trong đồn, hai tên đồn trưởng và đồn phó thỉnh thoảng dẫn cô Diệm và cô Trương vào đồn chơi và dần dà cá đã mắc câu, cai Sướng bắt bồ với cô Diệm, cai Giành kết bạn với cô Trương.
Sau một thời gian đồng chí Tấn cho biết tình hình binh lính ở đồn Gia Độ đã có sự phân hóa rõ rệt, nhiều người tỏ thái độ chán nản bi quan, cai Giành, cai Sướng đã có những bất đồng với hai tên cố vấn người Pháp, đối xử với binh lính tốt hơn, thường hay tâm sự về hoàn cảnh gia đình và thỉnh thoảng biểu hiện tâm lý chán nản sợ chết.
Được tin tôi liền viết thư thay mặt Ủy ban Kháng chiến Hành chánh xã kêu gọi cai Sướng và cai Giành hãy bắt tay với chính quyền cách mạng, cùng nhau tham gia kháng chiến cứu nước, cứu dân và về ngay thôn Gia Độ gặp cô Diệm và cô Trương, động viên hai cô tìm mọi cách trực tiếp hay gián tiếp đưa tận tay cho cai Giành và cai Sướng. Ít lâu sau cai Sướng gửi thư trả lời và hứa hẹn sẽ phối hợp với chính quyền địa phương đánh đồn Gia Độ. Khi cơ sở địch vận đã tổ chức xây dựng được một tiểu đội, cai Sướng thấy việc bắt cá hai tay rất nguy hiểm nên đề nghị với tôi bàn kế hoạch đánh đồn Gia Độ. Công việc đánh đồn do tổ địch vận và lực lượng nội công giải quyết, anh em du kích chịu trách nhiệm bắt tù binh, thu chiến lợi phẩm và đưa anh em cơ sở lên chiến khu trong đêm là được, không cần lực lượng quân đội chính quy phối hợp.
Tôi vào xin ý kiến Huyện ủy và báo cáo chủ trương đánh đồn Gia Độ với Huyện đội. Đồng chí Thoan Huyện đội trưởng đề nghị hoãn lại một thời gian để huyện cử cán bộ theo dõi thử thách thêm sẽ đánh vì sợ bị phản địch vận.
Huyện đội cử đồng chí Cận, một cán bộ địch vận về xã tiếp tục theo dõi, nhưng sau hai tháng thì bị lộ cơ sở do tên Hòa, một tên phản động gian ác người Giáo Liêm đã lên ở tại thị xã Quảng Trị, hôm đó về tìm anh Tấn là lý trưởng để chứng nhận giấy tờ cho con đi học, đã gặp anh Tấn và Cai Giành đang họp với một người lạ mặt có mang theo súng ngắn tại nhà anh Thống thôn Gia Độ, tên Hòa nghi là cán bộ Việt Minh định xông vào cướp súng nhưng không được đã tri hô la lối om sòm và chạy vào đồn báo cho hai tên Pháp biết. Bọn cố vấn Pháp nghi vấn, nên chỉ sau một tháng cả trung đội Com-măng-đô đều bị điều về thị xã, thay thế bằng một trung đội lính Bảo an. Tình hình trở lại khó khăn như trước. Vụ này gia đình anh Thống bị địch gây thiệt hại nặng nề, chúng ví bò, xúc lúa, phà nhà và bắt cô Hân em ruột anh Thống đem về đồn tra tấn rất dã man.
Đến năm 1953 địch đóng thêm đồn Hương vệ Phú Tài và xây thêm một lô cốt Hương vệ cuối thôn Gia Độ. Thời gian này tôi đang công tác tại Ban Chỉ huy Huyện đội Triệu Phong. Rút kinh nghiệm ở đồn Gia Độ, chỉ sau hơn một tháng tôi đã liên lạc tổ chức được 2 tổ cơ sở địch vận tại đồn Phú Tài và lô cốt cuối thôn Gia Độ và đã mấy lần trực tiếp làm việc với cơ sở nắm quy luật hoạt động và kế hoạch bố phòng của địch, xác định cửa khẩu đột phá, vẽ bản đồ chuẩn bị cho phương án đánh đồn.
Cụ thể ở đồn Phú Tài tôi đã gặp trực tiếp các anh Đỗ Cáo, Trương Hy và Trương Khả tại nhà ông Bộ Khản ở sát hàng rào đồn địch do vợ ông Khản làm trung gian liên lạc. Đêm đánh đồn Phú Tài anh Đỗ Cáo bị hy sinh do địch sát hại, hai anh Trương Hy và Trương Khả vẫn còn sống. Ở lô cốt Gia Độ đã làm việc trực tiếp với anh Hồ Sành, Hồ Dục tại nhà bà Bát Y, chỉ cách lô cốt mấy đám ruộng, do chị Nguyễn Thị Chút làm trung gian liên lạc. Huyện đội đang chuẩn bị, chưa kịp đánh thì chị Chút, anh Cọi và anh Dục đều bị bắt. Sau này mới biết sở dĩ cơ sở bị lộ là do một tên lính ở Gia Độ về phép vì sự thù hiềm cá nhân, đã chỉ điểm bắt chị Chút. Bị tra tấn dã man nên chị Chút đã khai báo, các anh Hồ Sành, Hồ Dục. Anh Dục bị địch thủ tiêu mất tích, chị Chút và anh Sành bị tù, sau hòa bình được trao trả, hiện nay còn sống.

thơ Hồ Xuân Lai

HXL thơ tặng


DUYÊN THẮM VẪN CÒN
(Thân tặng vợ tôi- Nguyễn Thị Cổn)

Năm mươi lăm năm trước
Chúng ta cưới nhau
Không hoa, không pháo
Không áo cưới, không cỗ bàn
Không đêm tân hôn, không tuần trăng mật
Chỉ có tiếng súng nổ khắp nơi
Đón chào cô dâu mới
Và bạn bè năm, bảy người lui tới
Chúc mừng nhau: “Không quên nhiệm vụ mới!”
Chỉ mấy hôm sau
Mây đen kéo đến khắp bầu trời
Giặc tràn về gây tội ác khắp nơi
Máu chảy, đầu rơi, ngút trời khói lửa
Mình phải xa nhau mỗi đứa một nơi.
Hơn ba mươi năm biển trời cách biệt
Tan giặc rồi mới hết thương đau.
Trải qua bao cuộc bể dâu
Chân trời góc bể biết đâu mất còn!
Còn trời còn nước còn non
Còn ta duyên thắm vẫn còn bên nhau!



CÁC CHÁU CỦA ÔNG
(Mến tặng các cháu nội – ngoại)

Các cháu của ông
Đứa nào cũng khỏe
Đứa nào cũng ngoan
Chăm học chăm làm
Nói năng lễ phép
Tính nết thật thà
Sống ở trong nhà
Anh em hòa thuận
Tôn kính ông bà
Vâng lời cha mẹ
Không hay khóc nhè
Nhưng còn quậy phá
Thường bị ông la
Khi biết làm sai
Tìm ông xin lỗi
Đó là điểm tốt
Cần được phát huy.

Lúc học ở trường
Siêng năng lao động
Bạn bè yêu thương
Học tập chăm chỉ
Được thầy cô khen
Học sinh xuất sắc
Tặng nhiều hoa sen.

Ông mong các cháu
Chăm chỉ học hành
Bé làm việc nhỏ
Giúp đỡ gia đình
Mai ngày lớn khôn
Phấn đấu vươn lên
Xây dựng ước mơ
Thành người có ích.

NHỮNG DẤU ẤN CUỘC ĐỜI

hồ xuân lai
BỒI DƯỠNG SỨC DÂN


Đầu năm 1947, sau khi chiếm đóng xong thị xã Quảng Trị và Đông Hà, địch liên tiếp mở những đợt càn quét lớn, phạm vi rộng từ cửa Thuận An đánh ra và từ Cửa Việt đánh vào, phạm vi hẹp thì bao vây càn quét từng huyện hoặc liên huyện. Riêng xã Triệu Độ chúng có âm mưu tiêu diệt hết Việt Minh để mở rộng thêm hệ thống đồn bót, nên chúng càn đi quét lại, bắn giết đốt phá, hãm hiếp và cướp bóc rất dã man, đồng bào một mặt lo sơ tán tránh giặc, không làm ăn gì được, mặt khác mỗi lần giặc càn vào xã đều bắt đồng bào công giáo thôn Dương Lộc mang quang gánh đi theo để xúc lúa, cướp trâu bò và bắt heo gà đưa về đồn giặc, nhằm thực hiện âm mưu thâm độc của chúng: chia rẽ lương giáo, lấy chiến tranh nuôi chiến tranh và làm cho đồng bào ta nghèo đói kiệt quệ để đầu hàng chúng. Do đó khi đồng bào trở về quê cũ với hai bàn tay trắng, tài sản bị cướp bóc hết, ruộng đồng bị địch dày xéo, trâu bò không còn để cày kéo, trong thôn không tiếng heo kêu, gà gáy... cuộc sống bà con hết sức khó khăn!
Trước tình hình đó cán bộ chúng tôi phân công xuống các thôn vận động nhân dân giúp nhau thu hoạch lúa hè thu, những nơi gần đồn địch thì thu hoạch ban đêm, có du kích canh gác, nếu địch ra thì báo động cho dân biết. Toàn dân xuống đồng gặt lúa, không kể ruộng của ai, cứ gặt về là phân tán ngay cho mỗi nhà một ít để sống.
Mặt khác vận động bà con góp vốn cử người ra miền núi Quảng Bình mua một số bò đem về làm sức kéo để tiếp tục sản xuất.
Hàng chục mẫu ruộng xung quanh các đồn bót địch cấm không cho cày cấy và gần 20 mẫu ruộng của ông Ngự ở Giáo Liêm bỏ hoang, vì không có tá điền nhận ruộng. Chính quyền xã đã vận động gia đình ông Ngự cho dân mượn để sản xuất. Đồng thời tổ chức cho nhân dân quanh các đồn bót đấu tranh, buộc địch phải thu hẹp lệnh cấm sản xuất chỉ còn cách hàng rào 10 mét. Ngoài phạm vi đó nhân dân được tự do cày cấy, nhưng khi đến làm phải báo cho đồn biết. Xã còn vận động toàn dân phát triển chăn nuôi, và yêu cầu một gia đình phải nuôi ít nhất 5 con gà, vịt, trong đó có một con mái đẻ và bình quân 3 gia đình thì có một gia đình nuôi heo.
Xã còn vận động nhân dân Giáo Liêm đắp đập ngăn mặn để mở rộng diện tích, từ đó đời sống nhân dân dần dần ổn định và đến năm 1950 đã hăng hái đóng thuế nông nghiệp vượt mức.

thơ Hồ Xuân Lai

Hồ Xuân Lai
t
h
ơ


DÒNG HỌ HỒ

Ở tại làng lễ nghĩa
Sống trong xóm lễ nghĩa
Dòng họ Hồ Lễ nghĩa
Tổ tiên để gương trong
Con cháu giữ gia phong
Phát huy dòng họ Hồ
Lầy “Lễ” làm nếp sống
Lấy “Nghĩa” làm Hiếu – Trung
Là dòng dõi Tiên – Rồng
Luôn giữ gìn truyền thống


ƯỚC AO

pha trà, tìm bút, làm thơ
suốt ngày suy gẫm ngẩn ngơ ra vào
tấc lòng luống những ước ao
bao nhiêu tâm trí gởi vào nguồn thơ
kiếm tìm trong gió vu vơ
trong mưa lất phất, lững lờ mây trôi
trong dông bão cuộc đời đau khổ
trong vinh quang lật đổ bất công
ước ao nuôi giấu trong lòng
làm sao viết được những dòng thơ hay
đủ đầy vị mặn vị cay
hương thơ thơm ngát xa bay khắp trời
để cho cuộc sống thảnh thơi
cho lòng thanh thản cho đời thêm vui

Sài Gòn ngày đầu năm 2001



TUẦN ĐÊM

Tuần đêm mưa rét tối mù
Bỗng nghe tiếng lội bên bờ mương phai
Vội vàng mới quát hỏi ai?
Giật mình khúc khích tiếng cười rằng em!
Tưởng tên gian, hóa người quen
Dân quân tự vệ xóm bên, xã mình
Ngày lo xóa đói giảm nghèo
Đêm về tranh thủ vớt bèo nuôi heo.



MỜI TRẦU

Miếng trầu mời bạn trao tay
Dù mặn, dù lạt, dù cay, dù nồng
Dù chẳng nên vợ nên chồng
Cũng ăn một miếng cho lòng em vui


LÚA CHIÊM

Lúa chiêm vàng dưới ánh trăng
Đêm hè lúa nhắn chị Hằng xuống chơi
Chị Hằng nhìn lúa mỉm cười
Lúa chín ngập trời nhuộm cả ánh trăng
Chị Hằng hỏi lúa ai trồng
Lúa rằng: Thưa chị, nhà nông dưới trần!



ĐỢI CHỜ

Đò đưa mấy chuyến sang sông
Lòng em như sóng biển Đông dâng trào
Hai năm nghĩa vụ là bao
Ra quân anh nhớ ghé vào thăm em
Đò em vẫn đậu ven bờ
Mấy năm em cũng đợi chờ tình anh.

những dấu ấn không quên

XÂY DỰNG CƠ SỞ
hồ xuân lai


Sau khi trở về bám trụ, cán bộ đi sát dân, ngày đêm tích cực làm công tác tuyên truyền vận động bằng nhiều biện pháp, đồng thời mở ngay chiến dịch trừ gian diệt tề, đặc biệt là đánh mạnh vào bọn tay sai chỉ điểm, hỗ trợ cho phong trào đấu tranh hợp pháp của nhân dân. Nhờ vậy mà dần dần đã làm cho quần chúng nhân dân yên tâm, tin tưởng, nhiều người hăng hái tham gia làm tai mắt và nuôi dấu cán bộ dân quân, phong trào quần chúng ngày càng lên cao, từng bước hình thành một vùng du kích chiến tranh ngay trong vùng địch hậu và chính quyền bắt đầu hoạt động công khai.
Đặc biệt thôn Dương Lộc đến giữa năm 1948 vẫn còn là vùng trắng, chưa có cơ sở Đảng và quần chúng. Dương Lộc là thôn công giáo toàn tòng, bọn phản động hoạt động rất tích cực, lập đồn hương vệ, rào làng chiến đấu rất kiên cố chống lại cách mạng. Chúng phối hợp chặt chẽ với các đồn giặc lân cận thường xuyên lùng bắt cán bộ và cướp bóc tài sản của dân các thôn trong xã. Huyện ủy chỉ thị bất cứ giá nào cũng phải xây dựng cho được cơ sở ở thôn Dương Lộc. Cấp ủy họp bàn mấy lần vẫn chưa tìm ra biện pháp.
Cuối cùng với tư cách chính quyền tôi viết thư mời 3 người có uy tín nhất hiện đang giữ các chức vụ trong Ban Hội tề ở Dương Lộc, trong đó có 2 người là đại biểu Hội đồng nhân dân khóa đầu tiên của xã gồm Ông Chánh Thiệp được giặc phục hồi chức Chánh tổng, Ông Kiểm Phu làm đồn trưởng đồn Hương vệ và Ông Thất Đệ hiện làm lý trưởng ra gặp chính quyền xã đúng 12 giờ đêm tại bãi tha ma giữa cánh đồng giáp giới giữa An Lợi và Dương Lộc. Thư viết rồi làm sao đưa tận tay các người đó là một việc hết sức khó khăn, tôi nhớ lại có ông Từ, là một quần chúng tốt ở thôn Dương Lộc mỗi lần lên công tác Dương Lộc, tôi thường nghỉ trưa và ăn cơm tại đây, nhà ông ở sau lưng nhà ông Thất Đệ, cạnh lũy tre bao quanh làng. Tôi quyết định gặp ông Từ để nhờ ông làm nhiệm vụ đưa thơ. Vào Dương Lộc rất nguy hiểm, nên trước khi đi tôi báo cho cấp ủy biết và nếu gặp bất trắc thì báo ngay cho Huyện ủy là tôi đã bị bắt.
Một đêm tối trời vào khoảng một hai giờ sáng tôi đã đột nhập vào nhà ông Từ. Sau khi thăm hỏi và trao đổi tình hình, tôi ngỏ ý nhờ ông chuyển thư của chính quyền xã cho những người nói trên, lúc đầu ông từ chối vì lo sợ, tôi động viên ông không phải đưa thơ trực tiếp, mà lợi dụng đêm tối khi các người trên đã vào nhà thờ tập trung, ông chỉ cần ném thư vào cổng, sáng về thế nào các ông ấy cũng nhặt được. Vì thấy không nguy hiểm, nên cuối cùng ông đã nhận lời.
Kết quả ông Chánh Thiệp và ông Thất Đệ đã ra gặp Ủy ban đúng thời gian và địa điểm quy định. Kiểm Phu không ra vì là Hương vệ trưởng.
Sau buổi tiếp xúc với Ủy ban mà tôi là người đại diện, các ông đều thề thốt do hoàn cảnh bắt buộc không bao giờ phản lại cách mạng, và ông Chánh Thiệp đã báo cáo cho chính quyền tình hình quân số và vũ khí ở đồn Dương Lộc, một bản danh sách phân loại thành phần Hương vệ nói rõ ai bị bắt buộc, ai thực tâm theo giặc, ai là phần tử hung hăng gian ác nhất, báo cáo kế hoạch phối hợp hành động giữa đồn Gia Độ và đồn Dương Lộc và thông qua hòm thư bí mật đặt tại một lăng mộ giữa cánh đồng, thỉnh thoảng ông Thiệp gửi thư báo cho Ủy ban biết địch chuẩn bị càn quét chỗ này, chỗ khác để ta chủ động đối phó. Nhưng chỉ sau một thời gian thì các ông này không còn liên lạc với địa phương nữa. Riêng ông Từ thì trở thành cơ sở của ta và đã cung cấp cho ta nhiều tin tức quan trọng, đặc biệt là cho ta biết quy luật phối hợp hoạt động giữa 2 đồn Gia Độ và Dương Lộc. Thỉnh thoảng đồn Gia Độ đến gọi đồn Dương Lộc phối hợp đi bắt Việt Minh về hoạt động, chúng đến vào khoảng 8-9 giờ đêm và về khoảng 11-12 giờ đêm và lần nào cũng vậy, chỉ có 2 tên cố vấn Pháp gọi thì Hương vệ mới mở cổng. Nhờ vậy ta đã tổ chức đánh đồn Dương Lộc, bắt sống trên 30 hương vệ, thu toàn bộ vũ khí đạn dược mà không tốn một viên đạn nào.